Thông báo rút kinh nghiệm vụ án hôn nhân gia đình Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Đăng lúc: Thứ hai - 29/05/2017 16:47 - Người đăng bài viết: admin
Ngày 24/4/2017 Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang đã xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án kiện xin ly hôn giữa: Nguyên đơn: Anh Trần Nhật Khánh; Bị đơn: Chị Trần Thị Xuân do VKSND tỉnh kháng nghị. Thông qua công tác kiểm sát xét xử vụ án, Phòng 9 – VKSND tỉnh Hà Giang đã ra Thông báo số 46/TB-VKS-P9 đến các VKS huyện, thành phố nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung nhằm thực hiện tốt công tác kiểm sát giải quyết án dân sự.
Nội dung vụ án: Anh Khánh và chị Xuân đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND phường Nguyễn Trãi, trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, đến cuối năm 2012 thì chị Xuân bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở  và sống ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh Khánh xin ly hôn. Có một con chung tên cháu là Trần Nhật Thành, sinh ngày 30/4/2007.
Tài sản chung gồm: Một nhà xây 01 tầng có gác xép nằm trên diện tích đất là 60m2. Năm 2014 được bố mẹ anh Khánh cho nhà và đất, anh đã  sửa lại nhà và cơi nới thêm 3 tầng, hiện nhà là 04 tầng, Địa chỉ tại tổ 01, thôn Cầu Mè, xã Phương Thiện, thành phố Hà Giang, Giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên ông Trần Nhật Khánh và bà Trần Thị Xuân.
Công nợ chung: Anh Khánh thừa nhận vay của bố mẹ vợ là ông Trần Văn Đang và bà Đặng Thị Sinh 02 lần với tổng số tiền là 115.000.000đ. Còn chị Xuân khai: Vợ chồng có vay tiền của bố mẹ chị, mục đích là dùng vào việc xây dựng nhà với tổng số tiền là 413.400.000đ, cụ thể anh Khánh trực tiếp hai lần. Lần một là 100.000.000đ không có giấy tờ, lần hai là 15.000.000đ có viết giấy vay nợ; anh Khánh nhờ em gái là chị Vương Thị Út và em rể là anh Hoàng Văn Thùy đứng ra vay hộ với tổng số tiền vay là 98.400.000đ (gồm 2 lần vay: lần một là 64.200.000đ, lần hai là 34.200.000đ). Chị trực tiếp vay 200.000.000đ có viết giấy vay tiền nhưng không có anh Khánh tham gia, số tiền này chị đưa cho anh Khánh một phần, số còn lại chị chi tiêu vào làm nhà và sinh hoạt gia đình. Chị đề nghị anh Khánh cùng có trách nhiệm trả cho bố mẹ chị các khoản nợ trên. Ngoài ra, chị còn yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm đưa ông Trần Văn Đang (bố chị Xuân) và anh Hoàng Văn Thùy, chị Vương Thị Út (em anh Khánh) vào tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan.
Bản án sơ thẩm quyết định: Xử cho anh Khánh được ly hôn chị Xuân. Giao cháu Thành cho anh Khánh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về tài sản chung: Giao cho anh Khánh được sử dụng 01 nhà xây 04 tầng (Trong đó tầng một có gác xép là tài sản chung của vợ chồng anh Khánh), nằm trên diện tích đất 60m2 thuộc thửa số 498, tờ bản đồ 19, giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên ông Trần Nhật Khánh và bà Trần Thị Xuân, cấp ngày 17/10/2014. Địa chỉ tại tổ 01, thôn Cầu Mè, xã Phương Thiện, thành phố Hà Giang. Anh Khánh có trách nhiệm thanh toán số tiền chênh lệch cho chị Xuân là 433.559.232 đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về các khoản tiền về chi phí thẩm định, định giá tài sản, tiền án phí, và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 06/02/2017, chị Xuân kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để xét xử  lại từ đầu.
Ngày 16/02/2017 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ra Quyết định kháng nghị số: 01/QĐKNPT ngày 16/02/2017 đối với Bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm với nội dung: Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm giao cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
- Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử  sơ thẩm số 25/2016 ngày 30/12/2016 (Gọi tắt là QĐXX số 25), thời gian mở phiên tòa vào 08 giờ ngày 16/01/2017. Tòa án cấp sơ thẩm gửi cho chị Xuân qua đường Bưu điện bằng phương pháp bảo đảm, có phiếu Vận đơn ngày 03/01/2017. Tại phiên tòa ngày 16/01/2017, Tòa án ra Quyết định hoãn phiên tòa với lý do: Chị Xuân vắng mặt không có lý do và quyết định thời gian mở lại phiên tòa vào 14 giờ ngày 19/01/2017. Về việc gửi QĐ xét xử số 25 cho chị Xuân chưa đảm bảo tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng. Khoản 2 Điều 175 BLTTDS quy định: “Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản tố tụng. Văn bản có xác nhận phải được chuyển lại cho Tòa án”. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm gửi QĐXX số 25 và Giấy triệu tập số 2 cho chị Xuân mới chỉ được thể hiện bằng phiếu Vận đơn ngày 03/01/2017 của Bưu cục Minh Khai, mà chưa có văn bản xác nhận có chữ ký của người nhận của dịch vụ bưu chính gửi lại cho Tòa án nên việc thực hiện cấp, tống đạt, thông báo của Tòa án sơ thẩm không được coi là hợp lệ. Đến ngày 19/01/2017 Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên tòa lần thứ 2 chị Xuân vắng mặt không có lý do Tòa án vẫn tiến hành xét xử là vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của chị Xuân trong việc không nhận được văn bản tố tụng quy định tại Điều 171 BLTTDS.
Xác định người tham gia tố tụng: Chị Xuân cho rằng vợ chồng chị vay nợ ông Đang và bà Sinh (bố &mẹ chị Xuân) một khoản tiền là 413.400.000đ, trong đó, vợ chồng chị có nhờ em anh Khánh (Vương Thị Út là em gái và Hoàng Văn Thùy là em rể) đứng ra vay hộ tiền của ông bà Đang, Sinh hai lần với tổng số tiền là 98.400.000đ, toàn bộ các khoản nợ này mục đích để làm nhà. Tại phiên hòa giải, đối thoại chị cũng đã đề nghị cấp sơ thẩm đưa những người này tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ vào tham gia phiên hòa giải, phiên tòa để chị đối chất, nhưng cấp sơ thẩm không chấp nhận mà chỉ xác minh đối với các đương sự trên. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng theo yêu cầu của bị đơn mà lại xác minh, thu thập chứng cứ đối với các đương sự là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng quy định tại khoản 4 Điều 68, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nghĩa vụ thi hành án: Bản án sơ thẩm không tuyên về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án đối với các đương sự, vi phạm điểm c khoản 2 Điều 266 BLTTDS và Điều 26 Luật thi hành án dân sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và gây khó khăn cho việc thi hành án Bản án.
- Về nội dung: Anh Khánh và chị Xuân có một nhà xây 01 tầng có gác xép nằm trên diện tích đất là 60m2. Nhà và đất là do bố mẹ anh Khánh cho năm 2014. Sau đó anh Khánh có cơi nới xây thêm 2 tầng và 01 tum (4 tầng). Mặc dù sống ly thân nhưng anh Khánh vẫn thông báo cho chị Xuân biết việc xây dựng nhà, quá trình xây dựng, anh chị cùng trực tiếp vay tiền của bố mẹ chị Xuân (ông Đang, bà Sinh) và được ông, bà xác nhận. Khi xây dựng xong anh Khánh có thiện trí mong chị Xuân quay về nhà nhưng chị Xuân không nhất trí. Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và thuộc sở hữu chung hợp nhất. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác nhận đất và nhà tầng 1 cộng gác xép là tài sản chung mà không xác định toàn bộ ngôi nhà 4 tầng là tài sản chung vợ chồng là không đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
 
          Như vậy, quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm, Kiểm sát viên đã không phát hiện được các thiếu sót của Toà án như đã nêu trên. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện VKSND tỉnh tham gia phiên toà đã nêu rõ những vi phạm của cấp sơ thẩm, giữ nguyên nội dung kháng nghị và được HĐXX phúc thẩm chấp nhận./.
Tác giả bài viết: Thu Nguyệt- P9
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết