Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Đăng lúc: Thứ sáu - 06/02/2015 15:10 - Người đăng bài viết: admin
1. Một số vấn đề lý luận về xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Việc xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trong một phiên toà xét xử sơ thẩm hình sự, quá trình thẩm vấn, xét hỏi là giai đoạn trung tâm của hoạt động xét xử và cũng là giai đoạn quan trọng nhất để xác định sự thật khách quan của vụ án. Đây là thủ tục có ý nghĩa quan trọng và quyết định đối với việc chứng minh tính đúng đắn và có căn cứ của một chuỗi các quyết định tố tụng đi đến quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, mọi chứng cứ, tài liệu liên quan đến nội dung vụ án đều phải được xem xét, thẩm tra công khai; những mâu thuẫn giữa các lời khai, giữa lời khai với vật chứng… phải được làm sáng tỏ để khẳng định và chứng minh bản chất của vụ án. Việc hỏi và trả lời được diễn ra công khai nhằm đánh giá những kết quả điều tra của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát (VKS) ghi nhận và khẳng định trong Cáo trạng truy tố đối với các bị can. Ngoài việc xét hỏi, Kiểm sát viên (KSV), người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự còn xem xét vật chứng, xem xét hiện trường xảy ra vụ án và những nơi khác, công bố các tài liệu...
Để tham gia xét hỏi tại phiên tòa đạt hiệu quả; trước khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên phải dự thảo đề cương tham gia xét hỏi và những nội dung cần làm sáng tỏ, dự kiến các tình huống khác có thể phát sinh tại phiên tòa để tham gia xét hỏi nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án và các tình tiết khác có liên quan đến việc định tội và đề xuất hình phạt.
Về thứ tự xét hỏi: Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) không quy định cụ thể phải hỏi ai trước, ai sau mà tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể, Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét hỏi theo thứ tự hợp lý. Tuy nhiên, trên thực tế thì hầu như việc xét hỏi tại phiên tòa đều được bắt đầu từ bị cáo. Đối với vụ án có đồng phạm thì tùy thuộc tính chất của mỗi vụ án, Hội đồng xét xử có thể chọn bị cáo chính hoặc bị cáo có quá trình khai nhận tội rõ ràng hoặc bị cáo khác để hỏi trước nhằm làm sáng tỏ ngay từ đầu hành vi phạm tội của các bị cáo. Thứ tự xét hỏi này không vi phạm quy định của BLTTHS và đã giúp cho việc xét hỏi không bị kéo dài mà vẫn làm sáng tỏ được nội dung vụ án.
Trong quá trình diễn biến tại phiên tòa, để có thể chủ động tham gia xét hỏi, bên cạnh việc nắm chắc hồ sơ, nội dung vụ án, KSV phải theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung, diễn biến quá trình xét hỏi của HĐXX, của người bào chữa và ý kiến trả lời của người được xét hỏi để tránh đưa ra những câu hỏi trùng lặp. Kiểm sát viên phải chú ý khai thác các mâu thuẫn phát sinh để phân tích các mâu thuẫn và đi đến bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở; dự kiến nội dung và chuẩn bị các câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề mà người bào chữa quan tâm.
Quá trình xét hỏi tại phiên tòa phải tôn trọng sự thật khách quan của vụ án. Qua thẩm vấn, xét hỏi công khai tại phiên toà có thể phát sinh những tình tiết, chứng cứ khác với những tình tiết, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra hoặc có những tình tiết, chứng cứ mới mà hồ sơ vụ án chưa có. Tại phiên tòa, khi có người tham gia tố tụng xuất trình tài liệu mới, KSV cùng HĐXX cần phải kiểm tra về nguồn gốc xuất xứ, về tính hợp pháp và tính có căn cứ của tài liệu sau đó mới phân tích nội dung tài liệu để HĐXX có căn cứ đánh giá, quyết định tuyên án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung vụ án.
Tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự  
Tranh luận có vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; là một trong những giai đoạn quan trọng có ý nghĩa quyết định để Hội đồng xét xử thảo luận khi nghị án. Đây cũng là giai đoạn được những người tham dự phiên tòa quan tâm nhất, bởi nó chứa đựng sự căng thẳng, mâu thuẫn, có thể tới mức xung đột quyết liệt giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, có thể phát sinh những kịch tính đầy bất ngờ làm thay đổi diễn biến của vụ án; thậm chí có thể làm thay đổi cả tình thế đối với bị cáo.
Về yêu cầu đối với Kiểm sát viên khi tranh luận, trước hết phải khẳng định tranh luận là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được BLTTHS quy định mà KSV có trách nhiệm thực hành quyền công tố nhà nước phải thực hiện tại phiên tòa. Mục đích chủ yếu của tranh luận là nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, bảo vệ tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quan điểm mà VKS đưa ra làm căn cứ truy tố các bị cáo trong cáo trạng. Để bảo đảm việc tranh luận có hiệu quả, KSV phải nắm chắc hồ sơ vụ án và những căn cứ pháp lý, những tài liệu khẳng định sự thật khách quan để đối đáp lại những quan điểm, những vấn đề mà bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đưa ra trong phiên toà. Thường đó là những vấn đề về đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, những điểm mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án, vai trò của từng bị cáo trong vụ án có nhiều bị cáo bị truy tố. Kiểm sát viên phải chuẩn bị những lý lẽ để đối đáp, bác bỏ các quan điểm sai trái, không đúng của bị cáo, Luật sư hoặc người bào chữa trên cơ sở viện dẫn những tài liệu làm chứng cứ để chứng minh, những căn cứ pháp lý để khẳng định và bảo vệ quan điểm truy tố các bị cáo trong cáo trạng của Viện kiểm sát.
Trọng tâm của phần tranh luận chính là những nội dung đối đáp của KSV đối với những lời tự bào chữa của bị cáo, lời bào chữa của Luật sư hoặc người bào chữa, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác. 
Mỗi KSV làm tốt việc tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là trực tiếp nâng cao vị thế của chính KSV đó tại phiên tòa và cũng chính là góp phần nâng cao vị thế, vai trò của ngành Kiểm sát nhân dân trong hoạt động xét xử nói riêng và trong tố tụng hình sự nói chung. Trong mọi tình huống, KSV luôn phải giữ thái độ bình tĩnh, xử sự đúng mực với bị cáo, tôn trọng Luật sư hoặc người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. 
2. Một số vụ án thể hiện rõ vai trò của Kiểm sát viên trong xét hỏi và tranh luận làm sáng tỏ nội dung vụ án
Vụ án Đoàn Tiến Dũng cùng đồng phạm bị truy tố về tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi” theo quy định tại Điều 283 khoản 4 điểm a Bộ luật Hình sự
Nội dung vụ án tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2009 đến tháng 9/2010, Đoàn Tiến Dũng là Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), được Tổng Giám đốc phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo và hỗ trợ hoạt động của Chi nhánh BIDV Hải Phòng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình gây ảnh hưởng đối với Chi nhánh BIDV Hải Phòng trong việc Chi nhánh Hải Phòng giải quyết bán tài sản thế chấp là dự án kho bãi container của Công ty TNHH V.K Hải Phòng và giải ngân số tiền bán tài sản này. Qua đây, Đoàn Tiến Dũng đã chỉ đạo Trần Thị Thanh Bình là Phó Giám đốc Chi nhánh BIDV Hải Phòng nhận 04 tỉ đồng từ Công ty TNHH V.K Hải Phòng. Ngày 02/02/2010, Đoàn Tiến Dũng còn trực tiếp nhận 01 tỉ đồng từ ông Hoàng Văn Khánh là Giám đốc Công ty TNHH V.K Hải Phòng tại nhà hàng phở Vuông 229 ở đường Giảng Võ, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang. Tổng cộng Đoàn Tiến Dũng đã trục lợi 5 tỉ đồng.
Ngày 24/5/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa bị cáo Dũng chối tội, cho rằng mình không phạm tội như cáo trạng truy tố và cho rằng số tiền 04 tỉ đồng mà Dũng chỉ đạo bị cáo Bình làm thủ tục tiếp nhận và 1 tỷ đồng Dũng nhận trực tiếp từ ông Khánh là tiền Công ty TNHH V.K Hải Phòng thưởng cho Dũng do việc bán được tài sản thế chấp là dự án kho bãi
container của Công ty TNHH V.K Hải Phòng. Còn bị cáo Bình thì cho rằng mình không đồng phạm với bị cáo Dũng do không biết tiền mà Dũng chỉ đạo nhận là tiền vi phạm pháp luật.
Tại phiên tòa, KSV giữ quyền công tố trong phần xét hỏi đã lập luận chứng minh trình tự chuyển 04 tỉ đồng cho Bình nhận đều diễn ra trước khi Chi nhánh BIDV Hải Phòng giải ngân số tiền bán được tài sản thế chấp cho Công ty TNHH V.K Hải Phòng chứng tỏ việc chuyển tiền của Công ty TNHH V.K Hải Phòng cho Dũng và Bình không phải là tiền do Công ty TNHH V.K Hải Phòng tự nguyện chuyển; hơn nữa, với cương vị là Phó Giám đốc Chi nhánh BIDV Hải Phòng và với việc chuyển tiền lắt léo qua những tài khoản mà Bình sử dụng để chuyển và nhận 04 tỉ đồng theo sự chỉ đạo của Dũng chứng tỏ Trần Thị Thanh Bình biết rõ việc nhận tiền là khuất tất. Trên cơ sở xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Đoàn Tiến Dũng 15 năm tù, bị cáo Trần Thị Thanh Bình 06 năm tù về tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi” theo quy định tại Điều 283 khoản 4 điểm a Bộ luật Hình sự.
Vụ án Dương Chí Dũng cùng đồng phạm bị truy tố về tội “tham ô tài sản” theo quy định tại Điều 278 và tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự.
Nội dung vụ án tóm tắt như sau: Trong quá trình triển khai Quy hoạch xây dựng ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) đề nghị bổ sung Dự án Nhà máy sửa chữa tàu thủy phía Nam nhưng Bộ Giao thông vận tải chưa bổ sung vào Quy hoạch xây dựng ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam, cũng chưa trình quy hoạch lên Thủ tướng để xem xét phê duyệt. Từ đầu năm 2007 đến hết năm 2008, Vinalines đã tổ chức khảo sát và quyết định ký hợp đồng mua và thanh toán tiền nhập khẩu ụ nổi 83M - một hạng mục của Dự án Nhà máy sửa chữa tàu thủy phía Nam với Công ty AP (Singapore).
Quá trình khảo sát thực tế, mặc dù biết ụ nổi 83M (sản xuất từ năm 1965) đã bị hư hỏng nặng, không có khả năng hoạt động được và đã bị Đăng kiểm Nga ngừng cấp giấy phép đăng kiểm từ năm 2006 nhưng Dương Chí Dũng vẫn chỉ đạo cấp dưới lập báo cáo kết quả khảo sát đủ điều kiện để mua được ụ nổi 83M. Việc làm trên đã làm trái nguyên tắc, trái quy định của Nhà nước gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 366 tỉ đồng; trong đó, Dương Chí Dũng, Mai Văn Phúc, Trần Hải Sơn, Trần Hữu Chiều tham ô 28 tỉ đồng (tương đương 1,666 triệu USD).
Ngày 18/5/2012, cơ quan Cảnh sát điều tra (C48) - Bộ Công an đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Dương Chí Dũng - nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines, nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam và đồng phạm về tội “tham ô tài sản” và tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.
Vụ án kết thúc điều tra được VKSND tối cao hoàn thành cáo trạng và ủy quyền cho VKSND thành phố Hà Nội thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đưa vụ án này ra xét xử từ ngày 12/12/2013 đến ngày 14/12/2013 và tuyên án vào ngày 17/12/2013.
Đáng chú ý tại phiên tòa này là sự đối đáp giữa KSV giữ quyền công tố tại phiên tòa với các Luật sư bảo vệ quyền lợi cho các bị cáo trong phần tranh luận. Sau khi KSV đại diện cho VKSND thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội; 16 Luật sư bảo vệ quyền lợi cho 10 bị cáo lần lượt trình bày lời bào chữa cho thân chủ của mình. Cả 10 bị cáo bị truy tố về tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 165 BLHS đều được các Luật sư bảo vệ cho rằng không phạm tội này như cáo trạng đã truy tố; các bị cáo nguyên là nhân viên Hải quan và Đăng kiểm thì được các Luật sư cho là vô tội, các bị cáo còn lại thì các Luật sư cho là phạm tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 285 BLHS. Cả 4 bị cáo bị truy tố về tội “tham ô tài sản” theo quy định tại Điều 278 BLHS đều được các Luật sư bảo vệ cho rằng không phạm tội này như cáo trạng đã truy tố.
Sau khi các Luật sư trình bày lời bào chữa cho các thân chủ của mình, các KSV giữ quyền công tố tại phiên tòa đã viện dẫn căn cứ pháp lý trên cơ sở quy định của pháp luật, các văn bản hướng dẫn dưới luật của Chính phủ, các ngành quản lý chức năng, những tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra vụ án và diễn biến tại phiên tòa để tranh luận, đối đáp bảo vệ quan điểm truy tố trong cáo trạng, cũng như trong bản luận tội của các KSV tại phiên tòa.
Theo quan điểm của các KSV: Trong khi dự án Nhà máy sửa chữa tàu biển phía Nam của Vinalines chưa được bổ sung vào Quy hoạch xây dựng ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải cũng chưa trình quy hoạch lên Thủ tướng để xem xét phê duyệt thì Dương Chí Dũng đã phê duyệt trái thẩm quyền việc đầu tư nhà máy sửa chữa tàu biển phía Nam; Tổng Giám đốc Mai Văn Phúc lại ký quyết định lập đoàn khảo sát sang Nga. Đoàn khảo sát đã lập báo cáo sai sự thật về thực trạng của ụ nổi 83M. Quá trình thanh toán tiền cho Công ty AP của Vinalines qua Citibank cũng không đảm bảo đúng quy định và các nội dung trong hợp đồng. Đến nay, việc mua ụ nổi 83M dẫn tới hậu quả làm thiệt hại cho Nhà nước lên tới hơn 366 tỉ đồng. Toàn bộ chuỗi hành động này có thể khẳng định việc mua ụ nổi 83M là cố ý làm trái quy định của Nhà nước mà không thể coi là thiếu trách nhiệm.
Đối đáp về khái niệm giữa ụ nổi và tàu biển, các KSV cho rằng: Vấn đề trong vụ án không phải chứng minh ụ nổi có phải là tàu không mà là Nhà nước Việt Nam thực hiện việc quản lý nhà nước đối với ụ nổi bằng những quy định nào. Không lẽ một tài sản hàng triệu USD vào Việt Nam không có quy định nào để quản lý? Sau khi viện dẫn những quy định của Luật Hàng hải, những văn bản pháp quy của các cơ quan chức năng Việt Nam về quản lý ụ nổi cũng như hồ sơ mua bán và hồ sơ đăng ký ụ nổi 83M do Vinalines lập, đã được Cơ quan đăng kiểm Việt Nam cấp phép tạm thời thì có thể khẳng định, một số cán bộ Chi cục Hải quan Vân Phong đã có hành vi cố ý làm trái, tiếp tay cho Vinalines nhập khẩu trái phép ụ nổi 83M vào Việt Nam. Nhóm cán bộ Hải quan này đã không làm đúng chức trách “người lính canh”, “gác cửa”; không làm tròn nhiệm vụ ngăn cản các sản phẩm, hàng hoá không đủ chất lượng xâm nhập vào Việt Nam. Việc khởi tố, truy tố, xét xử các bị cáo được khẳng định là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về hành vi tham ô của 04 bị cáo Dũng, Phúc, Sơn, Chiều, các KSV phân tích các kết quả xác minh về việc ký mua ụ nổi 83M, biên bản thoả thuận ngày 07/7/2007 có nêu việc chuyển về Việt Nam là 1,666 triệu USD. Khi chuyển số tiền trên về Việt Nam qua Công ty Phú Hà, chứng từ chuyển khoản tiền này Công ty AP cũng ghi rõ là để làm các dịch vụ nhập khẩu ụ nổi 83M. Đồng thời, việc Trần Hải Sơn, Trần Hữu Chiều đã khai một cách tự nguyện về việc các bị cáo hưởng lợi bất chính số tiền lớn; lời khai của Dương Chí Dũng lại quanh co về mối quan hệ của Dũng với ông Goh; các lời khai của Sơn về các lần chuyển tiền cho Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc có đủ căn cứ chứng minh các bị cáo chiếm đoạt số tiền hơn 28 tỉ đồng của Nhà nước.
Căn cứ hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX đã tuyên án đối với 10 bị cáo trong vụ án bằng một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được dư luận xã hội đồng tình. Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã xét xử phúc thẩm vụ án và đã tuyên bản án cơ bản như bản án sơ thẩm đã được tuyên.
3. Kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng xét hỏi, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
Để thực hiện việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa có chất lượng, KSV thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hình sự cần lưu ý các vấn đề sau:
Thứ nhất, Kiểm sát viên phải bám sát tiến trình giải quyết, nắm chắc nội dung vụ án
Để có thể xét hỏi và tranh tụng có hiệu quả, KSV phải nắm chắc tiến trình giải quyết vụ án ngay từ khi vụ án được khởi tố, điều tra. Quy định của BLTTHS hiện hành cho phép KSV tham gia thực hành quyền công tố, tiến hành kiểm sát việc điều tra vụ án ngay từ khi vụ án được khởi tố để điều tra đến các giai đoạn sau của tố tụng hình sự để nắm bắt nội dung vụ án một cách chắc chắn, chi tiết. Vì vậy, việc nắm chắc nội dung, tiến trình giải quyết vụ án từ giai đoạn điều tra sẽ góp phần không nhỏ cho KSV thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà trực tiếp là thực hiện tốt việc tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ cáo trạng mà VKS đã ban hành.
Thứ hai, Kiểm sát viên phải chuẩn bị tốt đề cương xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa
Trước khi tham gia phiên toà, KSV phải dự thảo đề cương xét hỏi và những nội dung cần làm rõ tại phiên toà như: Hỏi về hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích, hậu quả, công cụ, phương tiện phạm tội, thủ đoạn phạm tội… Đồng thời dự kiến những tình huống, diễn biến có thể xảy ra tại phiên toà như thái độ tâm lý của bị cáo, khả năng phản cung của bị cáo, thay đổi lời khai của những người tham gia tố tụng... Dự kiến những tài liệu, chứng cứ đưa ra để đấu tranh với bị cáo, trích dẫn lời khai của bị cáo, dự kiến đối chất tại phiên toà để giải quyết các mâu thuẫn. Chuẩn bị những câu hỏi đối với người làm chứng, người bị hại, người giám định và những người tham gia tố tụng khác. Phải dự kiến đầy đủ nội dung cần hỏi đối với từng đối tượng: Đối với người bị hại cần hỏi về yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu xử lý đối với bị cáo; đối với người làm chứng cần phải hỏi về những tình tiết của vụ án mà họ biết, về quan hệ của họ với các bị cáo; đối với người giám định, chủ yếu nêu những câu hỏi về những căn cứ pháp lý, căn cứ khoa học làm cơ sở để kết luận giám định... Dự kiến những vấn đề mà người bào chữa hoặc bị cáo quan tâm để đặt ra những câu hỏi làm sáng tỏ nội dung vụ án khi xây dựng đề cương xét hỏi KSV cần lưu ý nội dung các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, không đặt các câu hỏi mớm cung, dụ cung...
Thứ ba, Kiểm sát viên phải nắm chắc diễn biến phiên tòa để chủ động tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên toà
Trong quá trình tham gia xét hỏi và tranh luận, KSV phải theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung, diễn biến quá trình xét hỏi của HĐXX, của người bào chữa và ý kiến trả lời của người được xét hỏi để chủ động đưa ra những câu hỏi của mình nhằm khẳng định kết quả điều tra. Thông qua việc xét hỏi để chứng minh và khẳng định các tài liệu được thu thập trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án đã đảm bảo tính hợp pháp; từ đó có cơ sở đề xuất về tội danh, hình phạt, các quyết định khác có liên quan… trong phần luận tội.
 Kiểm sát viên cần chú ý khai thác các mâu thuẫn phát sinh để phân tích chúng và bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở; chuẩn bị các câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề mà người bào chữa quan tâm. Câu hỏi của KSV phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và phải trực tiếp liên quan đến việc làm sáng tỏ các tình tiết, nội dung của vụ án.
Để đảm bảo xét hỏi và tranh luận tại phiên toà đạt chất lượng tốt, KSV phải tổng hợp, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, coi trọng cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, các tình tiết có liên quan đến vụ án; phải kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các chứng cứ tài liệu được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án.     
Ngoài những vấn đề nêu trên, muốn nâng cao năng lực xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự; trước hết, mỗi KSV phải tích cực nghiên cứu, học tập để nắm vững các quy định của pháp luật, nhất là pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự, các văn bản luật có liên quan, các hướng dẫn áp dụng pháp luật. Thường xuyên rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ về tham gia phiên toà hình sự sơ thẩm như kỹ năng diễn đạt, kỹ năng trình bày bản luận tội, kỹ năng đối đáp, khả năng phản xạ linh hoạt trước các nội dung mới phát sinh tại phiên toà. Đồng thời, KSV cần thể hiện sự ứng xử có văn hoá trong thái độ, trong cách xưng hô tại phiên toà, bảo đảm tôn trọng sự điều khiển của chủ toạ phiên toà, tôn trọng của những người tham gia tố tụng, nhất là những người tham gia tranh luận với mình./.
Nguyễn Chí Dũng
Kiemsat Online
 
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết